Quan niệm tôn giáo về nguồn gốc loài người a/lý

Các nhà Khoa học chứng minh rằng: Nguồn gốc của loài người bắt nguồn từ loài vượn cổ. Hiện nay, các nhà khoa học đa số đã nghiên cứu và thống nhất loài người đã tiến hóa từ vượn người qua 3 loại hình người cơ bản là Homo sapiens, Homo erectus và Homo sapiens 

*
Quá trình tiến hóa của con người

Loài người bắt nguồn từ đâu

Với khoa học

*
Vũ trụ của loài ngườiCác nhà Khoa học chứng minh rằng: Con người bắt nguồn từ loài vượn cổ.

Homo habillis (Người khéo léo):thường xuất hiện ở Đông Phi.Phần lớn người Australopithecina họ được coi là Hominini đầu tiên, tức là họ được coi là những con người sớm nhất, và dòng họ hoặc tổ tiên của nó đã sinh ra sau khi tách từ dòng dõi của Pan (còn được gọi là tinh tinh). 

Homo erectus (Người đứng thẳng):tiến hóa ở châu Phi, rất giống với người hiện đại, nhưng có bộ não chỉ khoảng 74% kích thước não người ngày nay. Trán của họ ít dốc hơn người Homo habilis và răng hàm nhỏ 

Homo sapiens (Người tinh khôn, người hiện đại): được phát hiện khoảng 95 nghìn năm trước, Phải đến thời điểm khoảng 70 nghìn năm trước,tộc người homo sapiens mới trải qua cuộc tiến hóa “cách mạng” để trở nên khác biệt hoàn toàn so với các lớp còn lại

Với phật giáo

*
Phật giáo với loài người

Ở đây người viết không trình bày hay phê bình chỉ trích thuyết trên, mà chỉ trình bày và mô tả thuyết của Phật giáo.

Theo quan điểm của các nhà Phật giáo được thể hiện cụ thể qua hai tập kinh Khởi Thế Nhân Bổn (Nikàya) và Duyên (Agama), thế giới là vô cùng, vô tận. Trong mỗi thế giới có các dạng thức trường tồn khác nhau. Ngoài thế giới chúng ta đang sống đây hay còn có nhiều thế giới khác, trong đó, cõi Trời Quang Âm mang tương ưng với Nhị-thiền Sắc giới..

Vào thời điểm thời kỳ hình thành của thế giới này, các chúng sanh chuyển thế ở Quang Âm thiên sau khi thác sinh sẽ được hóa sinh đến cõi Trời Biến-Tịnh tương ưng với Tam-thiền Sắc-giới. . NHững ngày đầu hình thành thế giới, chưa có sự phân biệt giữa ngày và đêm, chưa có sự phân biệt giữa các giới tính.

Đất đai lúc đó có màu sắc và hương vị rất sâu sắc. Khi ấy, “những chúng sanh này, do ý sanh, nuôi sống bằng tự hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không”trích (Kinh Khởi Thế Nhân Bổn). Sau đó, có một số chúng sanh nổi lên tư tưởng thử nếm vị ngọt của đất. Sau khi nếm, trong họ trỗi dậy lòng tham ái thì ngay đó, ánh sáng trên thân thể của họ sẽ biến mất dần đi.


Lòng tham ái đã khiến cho các con người ấy trở nên thô xấu, họ không còn được tự do tự tại, thanh thản như lúc đầu.Từ đó, ý thức về giới tính xuất hiện, các họ phát sanh, điều kiện sống thay đổi…họ phải lao động cực nhọc hơn để tồn tại và phải tranh đấu với nhiều điều kiện sống khắc nghiệt khác để khẳng định sự hiện hữu của mình trên thế giới này

Với Thiên Chúa Giáo

*
Loài người với thiên nhiên

Sau khi đã dựng nên trời đất và thiên nhiên muôn vật, Thiên Chúa nắn một hình Người từ bụi đất theo hình ảnh của con người và hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh.

Thiên Chúa đặt ngài trong vườn để cho Eden để trồng và trông nom khu vườn, cho phép người ăn tất cả các loại cây trong khu vườn trừ Trái Trí Tuệ – Trái cấm. Thiên Chúa nói:”…vì ngày nào đó ngươi ăn, chắc chắn ngươi cũng sẽ phải chết”. Ngài cũng tạo ra các loài thú, rồi dẫn đến trước mặt Adam thử xem người đặt tên chúng nó làm sao, hầu như cho tên nào Adam đặt cho mỗi vật sống, đều thành tên riêng cho vật sống đó .

Adam đặt tên cho các loài động vật, các loài chim trời, thú đồng và các sinh vật khác nhưng về phần của Adam thì Ngài chẳng tìm được một ai giúp đỡ để giống như mình hết, bởi vì thế Thiên Chúa đã làm cho Adam ngủ mê, bèn lấy các đoạn xương sườn và lấp thịt thế vào.

Ngài Thiên Chúa đã dùng cạnh sườn Adam làm nên một người nữ, đưa đến cùng với Adam. Adam mới nói rằng: “Người này là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi mà ra. Người này sẽ được gọi là một người nữ, vì do nơi này người nam mà ra”. Bởi vậy cho nên người nam sẽ lìa xa cha mẹ mà dính díu cùng vợ mình, và cả hai sẽ trở nên cùng một thịt. Loài người và vợ mình, cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau.

Quá trình nhận thức về nguồn gốc loài người

*
Cấu trúc xương mặt của loài người

Con người tự ý thức được về nguồn gốc của mình đã từ lâu đời : từ nhận thức truyền thuyết, thần thoại tôn giáo đến nhận thức khoa học và càng ngày càng đúng hơn. Từ các dấu hiệu được phát hiện trước đó , các giả thuyết khoa học lần lượt ra đời để thay thế nhau, phủ định lẫn nhau hoặc bổ sung nhau một cách biện chứng theo đúng quy trình nhận thức.


Quá trình nhận thức được nguồn gốc của loài người là một vấn đề khoa học – khó khăn khó có lời giải không những vì thời điểm xuất phát con người cách xa hàng chục triệu năm, mà vì đó còn là một hiện tượng phức tạp phải có sự hợp tác nhiều yếu tố khoa học mới giải quyết được. Và chỉ có đứng trên quan điểm khoa học liên ngành mới có phương hướng giải quyết đúng đắn nhất.

Theo một số bài báo về mặt nhận thức khoa học, nói một cách đại thể, thì có ba giai đoạn chính trong nhận thức thực sự về nguồn gốc loài người.

– Darwin (thế kỷ XIX) đã đưa ra quan điểm cá nhân và chứng minh bằng thành tựu khoa học đương thời là, con người được ra đời từ một giống vượn người cổ (Hiện nay có tài liệu nói rằng cách đây hơn 200.000 năm, xem Báo khoa học phổ thông số Tết 1987) .

Quá trình tiến hóa chuyển vượn thành người, Darwin cho rằng do tác động của thay đổi khí hậu môi trường mà loài vượn đã phải thích nghi với cách kiếm ăn ,sinh sống trong môi trường mới, di chyển bằng hai chân… rồi dần dần tiến hóa thành người.

– Thời Mác- Ăngghen, Ăngghen cho rằng: chính lao động là điều kiện cơ bản quyết định sự chuyển biến lớn của con vượn thành người ngay trong quá trình chuyển biến cơ thể. Đây là yếu tố lớn của Ăngghen cho giới khoa học bây giờ 

Mọi người vẫn quen và thấm lần với giả thuyết sự tiến hóa từ vượn sang người một cách dần dần, bằng cách thích nghi thích hợp của cơ thể với môi trường trong quá trình lao động. Về mặt sinh học, con người khác với giới động vật là đi bằng hai chân, giải phóng được đôi tay, phát triển đại não bộ.

*
Mô phỏng mặt người

Yếu tố then chốt này tác động vào cơ thể vượn chuyển thành người là do chuyển sang ăn thịt trong điều kiện khí hậu môi trường xấu đi. Đó là những điều mà Đại bách khoa toàn thư Liên Xô (1956) đã hoàn toàn thừa nhận . Về mặt niên đại,có người thường cho rằng con người xuất hiện chỉ khoảng 40 – 80 ngàn năm trước, ở Châu Á.


– Nhưng đến đầu những năm 60 của thế kỷ XX đến nay, đã có nhiều phát hiện khoa học mới có liên quan tới nguồn gốc của loài người, trước hết là nguồn gốc sinh học và tự nhiên của con người (bắt nguồn từ khảo cổ học, di truyền học, vật lý thiên văn…), làm chấn động thay đổi giới nhận thức truyền thống. Từ đó các giả thuyết khoa học về nguồn gốc con người lại lần nữa được xuất hiện.

Theo các giả thuyết hiện nay của khoa học của trường phái Machusin là nổi bật và đáng tin cậy nhất. Bài giả thuyết của Machusin “một giả thuyết độc đáo”, mà nội dung chính của nó là: do ảnh hưởng lớn của các bức xạ đã gây đột biến các gen di truyền làm cho con người xuất hiện, trước hết về mặt sinh học.

Chính do sự xuất hiện cấu trúc sinh học mới (đi thẳng, vỏ đại não phát triển) đã bước đầu chuyển sang lao động có hệ thống, mở đầu cho sự lịch sử của loài người. Cái nôi của con người là ở Nam và Đông Phi. Lần đầu tiên mà con người xuất hiện cách đây không muộn hơn hơn 2 triệu năm (2.6 triệu năm trước). Đây là giả thuyết phong phú và đa dạng , tổng hợp được các tri thức khoa học trước đó và có nhiều căn cứ khoa học chưa giải thích được.

Theo chúng ta, có thể coi đây chính là thời kỳ thứ ba, một đỉnh cao trong nhận thức mới về nguồn gốc loài người (Mà một trường phái khoa học ở Liên Xô do Machusin đại diện).

Như viện sĩ Dubinin, người đã viết lời nói đầu cho cuốn sách, nhận xét: vần đề lịch sử và nguồn gốc con người vẫn “còn nhiều vấn đề chưa rõ”. Tuy nhiên,ta phải thấy rằng tác phẩm của Machusin đã gợi ra những tính quy luật chung làm xuất hiện con người (và theo chúng ta dù loài người ở hành tinh nào cũng tiến hóa đại thể như vậy về mặt tính tất yếu ở những buổi đầu của nó). Đó mới là vấn đề quan trọng trong khoa học.

*
Bản đồ di cư của loài người

Đạt được kết quả đó do khoa học hiện đại ngày nay mang lại. Chỉ có trong thời đại khoa học hiện nay, mới có khả năng nói về sự nguồn gốc loài người tương đối chính xác (nhất là về những tiến hóa sinh học).